Mục
này mô tả điều kiện và mục đích của thanh trùng sử dụng trong quá trình xử lý
sữa. Lịch sử của thanh trùng cung cấp nền tảng cho việc thực hiện và các lợi
ích của thanh trùng, và sự hợp lý của các điều kiện của nó.
1.
Tăng sự an toàn khi sử
dụng sữa bằng cách tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh (mầm bệnh) có thể xuất hiện
trong sữa
2.
Tăng thời gian bảo quản
chất lượng của sữa bằng việc tiêu diệt các vi khuẩn gây hỏng sữa và các enzyme
tham gia vào việc làm hỏng chất lượng và thời gian sử dụng sữa
Những
điều kiện tối thiểu của thanh trùng được chỉ ra trong bảng 1 dưới đây, và dựa
trên các quy định được đưa ra về Pháp
lệnh thanh trùng cho sữa hạng A (PMO). Những điều kiện này quyết định điều
kiện xử lý tối thiểu cần thiết để diệt khuẩn Coxiella burnetii, một loại khuẩn gây bệnh Q ở người, là một
khuẩn có độ chịu nhiệt cao nhất tìm ra hiện nay trong sữa. Sữa có thể được
thanh trùng bằng trong nhiệt độ cao hơn, thời gian lâu hơn so với quy định tối
thiểu.
Thanh
trùng có thể được thực hiện gián đoạn hoặc trong một quá trình liên tục. Thanh
trùng ở bể chứa bao gồm sự kiểm soát về nhiệt độ, và đóng bể chứa. Sữa được đổ
vào bể chứa, và được làm nóng đến nhiệt độ thích hợp, giữ nhiệt độ đó trong khoảng
thời gian thích hợp rồi làm mát. Sữa mát sẽ được đổ ra khỏi bể chứa trong suốt
phần còn lại của quy trình xử lý sữa, ví dụ như đưa sữa vào các trạm đóng chai
hoặc các bể chứa chế biến phomat. Thanh trùng gián đoạn được sử dụng ở một số
nhà máy nhỏ hơn. Quy trình phổ biến nhất để thanh trùng sữa nước là xử lý liên
tục, Sữa được đổ vào một bể chứa lớn từ các thùng chứa sữa tươi nguyên chất
chuyên để xử lý thanh trùng liên tục. Sữa sẽ liên tục chảy vào thùng chứa qua một
loạt các tấm mỏng làm nóng sữa đến nhiệt độ thích hợp. Hệ thống vận chuyển sữa được
thiết kế để đảm bảo sữa giữ nguyên ở nhiệt độ thanh trùng trong khoảng thời
gian thích hợp trước khi nó được chuyển sang vùng làm mát trong quy trình thanh
trùng. Sữa mát sau đó sẽ chảy vào phần còn lại của quy trình, ví dụ như vào các
trạm đóng chai. Có nhiều lựa chọn về nhiệt độ và thời gian khi xử lý sữa trong
quy trình liên tục đối với sữa nước đã được làm mát. Mặc dù các điều kiện của
quy trình phải được đảm bảo ở nhiệt độ trên 93.3 °C, nhưng thường thì sữa không
được làm nóng đến nhiệt độ đó vì nó sẽ tạo ra hương vị chín rất khó chịu trong
sữa.
Bảng 1. Điều kiện về thanh trùng sử dụng cho các sản phẩm sữa
|
Loại thanh trùng
|
Sản phẩm tiêu biểu
|
Lưu trữ thông thường
|
Nhiệt độ
|
Thời gian
|
|
Gián đoạn – trong thùng chứa
|
Sữa
|
Tủ lạnh
|
62.8°C
|
30 phút
|
|
"
|
Các sản phẩm dẻo, hoặc các sản phẩm có nhiều
hơn 10% chất béo hoặc thêm ngọt
|
"
|
65.6°C
|
30 Phút
|
|
"
|
Eggnog, hỗn hợp món tráng miệng đông lạnh (ở
VN gọi là váng sữa)
|
"
|
68.3°C
|
30 phút
|
|
Liên tục, nhiệt độ cao trong thời gian ngắn
(HTST)
|
Sữa
|
"
|
71.7°C
|
15 giây
|
|
"
|
Các sản phẩm dẻo, hoặc các sản phẩm có nhiều
hơn 10% chất béo hoặc thêm ngọt
|
"
|
74.4°C
|
15 giây
|
|
"
|
Eggnog, hỗn hợp món tráng miệng đông lạnh (Ở
VN gọi là váng sữa)
|
"
|
79.4°C
|
25 giây
|
|
"
|
"
|
"
|
82.2°C
|
15 giây
|
|
Liên tục, nhiệt độ cao hơn trong thời gian
ngắn hơn (HHST)
|
Sữa
|
"
|
88.3°C
|
1 giây
|
|
"
|
"
|
"
|
90°C
|
0.5 giây
|
|
"
|
"
|
"
|
93.8°C
|
0.1 giây
|
|
"
|
"
|
"
|
96.2°C
|
0.05 giây
|
|
"
|
"
|
"
|
100°C
|
0.01 giây
|
|
Liên tục, Siêu thanh trùng
|
Sữa và kem
|
Tủ lạnh, Mở rộng thời gian lưu trữ
|
137.8°C
|
2 giây
|
|
Vô trùng, Nhiệt độ cực cao (UHT)
|
Sữa
|
Nhiệt độ phòng
|
135-150°C
|
4-15 giây
|
|
Khử trùng
|
Sản phẩm đóng chai
|
"
|
115.6°C
|
20 phút
|
Lịch sử của thanh trùng
Quá trình làm nóng hoặc đun sữa để bảo vệ sức khỏe đã được nhận thức từ những năm 1800, và nó được sử dụng để giảm các bệnh từ sữa và giảm tử vong ở trẻ sơ sinh vào cuối năm 1800. Trong khi xã hội công nghiệp xuất hiên đến thế kỷ 20, việc tăng các sản phẩm từ sữa và cung cấp sữa dẫn đến bùng phát các dịch bệnh từ sữa. Các bệnh từ sữa phổ biến trong thời gian này là sốt thương hàn, sốt ban đỏ, nhiễm trùng đau họng, bạch hầu và các bệnh tiêu chảy. Các bệnh trên đã được loại bỏ hoàn toàn với việc thanh trùng trong sản xuất, kết hợp với việc cải thiện quản lý vệ sinh ở các trang trại sữa. Năm 1938, sản phẩm từ sữa là nguồn gốc của 25% tất cả các thực phẩm và các bệnh từ nước bị quy về là có nguồn gốc từ sữa. Nhưng hiện nay người ta nhận ra sữa chỉ gây ra ít hơn 1% các bệnh liên quan đến thực phẩm và từ nước.
Thanh
trùng là một quy trình làm nóng chất lỏng ở dưới ngưỡng sôi để tiêu diệt vi
khuẩn. Nó được phát triển bởi Louis Paster tvaof năm 1964 để nâng cao khả năng
kiểm soát chất lượng của rượu vang. Thanh trùng công nghiệp với sữa bắt đầu vào
cuối những năm 1800 ở Châu Âu và đầu những năm 1900 ở Mỹ. Thanh trùng trở thành
bắt buộc đối với tất cả các sữa bán ở Chicago vào năm 1908, và vào năm 1947,
Michigan trở thành bang đầu tiên yêu cầu tất cả các loại sữa trong bang phải
được thanh trùng. Trong năm 1924, Sở y tế Công Cộng của Mỹ đưa ra pháp lệnh sữa
tiêu chuẩn để giúp các bang tham gia việc thanh trùng tự nguyện. Pháp lệnh về
thanh trùng cho sữa hạng A là tên gọi của pháp lệnh này hiện nay, nó đã được
quản lý bởi Sở y tế và dịch vụ nhân sinh và Y tế công cộng, cục quản lý thực
phẩm và dược phẩm xác định các tiêu chuẩn liên quan đến sữa, thiết kế của nhà
máy chế biến sữa, tiêu chuẩn vắt sữa, dự trữ sữa và vệ sinh, và các tiêu chuẩn
cho thanh trùng các sản phẩm từ sữa hạng A. Mỗi bang vẫn tự quản lý quy trình
sản xuất sữa trong bang nhưng các sản phẩm sữa phải đạt được các tiêu chuẩn đề
ra trong pháp lệnh PMO nếu nó muốn được bán ở toàn quốc.
Điều
kiện thanh trùng ban đầu, được biết với tên gọi là thanh trùng nhanh, là đun
sữa đến nhiệt độ từ 68.3 đến 81°C trong thời gian rất ngắn rồi làm mát. Điều
kiện thanh trùng đã được chỉnh lại đến 61.7°C trong 30 phút và 71.1°C trong 15
giây để vô hiệu hóa vi khuẩn Mycobacterium bovis – loại vi khuẩn gây bệnh lao.
Tuy nhiên, đến năm 1957 những điều kiện này không còn phù hợp để vô hiệu hóa
khuẩn Coxiella burnetii – gây bệnh sốt Q ở người. Điều kiện thanh trùng mới là
ở nhiệt độ 62.8°C trong 30 phút với thanh trùng gián đoạn, và ở 71.7°C với
thanh trùng liên tục trong 15 giây đã được thực hiện để vô hiệu hóa Coxiella
Burnetii và các điều kiện này vẫn được sử dụng đến ngày hôm nay














0 nhận xét:
Đăng nhận xét