Mục này mô tả các tác nhân gây ra các bệnh về sữa và các bệnh liên quan, và một số vi khuẩn quan trọng khác trong sữa. Một bảng tổng kết tính chất các bệnh trong phần lớn các mầm bệnh trong sữa được trình bày vào đầu của mục, sau đó là thảo luận chi tiết hơn về các vi khuẩn này trong sữa.
Các
tường hợp người bị nhiễm bệnh do uông sữa thành phẩm được trình bày trong mục “các
đợt bùng phát dịch bệnh” của trang web này
Bảng 1: Các mầm bệnh chủ yếu gây bệnh trong sữa và các bệnh liên quan
Tên vi khuẩn
|
Bệnh
|
Triệu chứng
|
Nguồn gốc gây bệnh
|
Campylobacter jejuni
|
Viêm dạ dày-ruột
|
Tiêu chảy, đau bụng,
sốt
|
Đường ruột và phân
|
Coxiella burnetii
|
Sốt Q
|
Ớn lạnh, sốt, suy nhược, đau đầu, có thể viêm nội
tâm mạc
|
Gia xúc nhiễm bệnh,
cừu và dê
|
Escherichia coli O157:H7
|
Sưng dạ dày
Hội chứng Ure huyết, tán huyết
|
Tiêu chảy, đau bụng, tiêu chảy ra máu
Suy thận, có thể tử vong
|
Đường ruột và phân
|
Listeria monocytogenes
|
Bệnh Listeriosis
|
Giống triệu chứng bệnh
cúm, sẩy thai, thai chết lưu, thai chết, sẩy thai tự nhiên
|
Nước, đất, môi trường
|
Mycobacterium bovis ortuberculosis
|
Lao
|
Bệnh phổi
|
Động vật nhiễm bệnh
|
Mycobacterium paratuberculosis
|
Bệnh Johne's (Trên động vật nhai lại)
|
Chưa xác định là có
liên quan đến bệnh Crohn ở người hay không
|
Động vật nhiễm bệnh
|
Salmonella spp.
|
Sưng dạ dày
Thương hàn
|
Tiêu chảy, nôn, sốt
|
Phân và môi trường
|
Yersinia enterocolitica
|
Sưng dạ dày
|
Tiêu chảy, viêm ruột
thừa
|
Môi trường, nước, động
vật nhiễm bệnh
|
Chủng (spp) Brucella được tìm thấy ở nhiều
động vật bao gồm gia xúc, cừu, và dê. Brucella spp. bị phá hủy bởi thanh trùng
Brucella spp. gây bệnh với các triệu chứng giống
cúm, bao gồm sốt, đổ mồ hôi, đau đầu, đau lưng và suy nhược cơ thể. Trong một số
trường hợp, nó gây ra sốt kéo dài, đau khớp và mỏi mệt.
Campylobacter jejuni được tìm thấy trong đường ruột, vú và
phân của gia xúc, gia cầm và các loài chim hoang dã, và trong nguồn nước ô
nhiễm. Campylobacter jejuni bị phá hủy bởi thanh trùng.
Campylobacter
jejuni là một trong các vi khuẩn phổ biến nhất gây ra bệnh tiêu chảy ở Mỹ.
Bệnh có thể phát rời rạc hoặc bùng phát thành dịch với quy mô lớn hơn.
Campylobacter jejuni thường gây bệnh từ 2-5 ngày sau khi
tiếp xúc, và số thường kéo dài từ 5-10 ngày. Các triệu chứng của Campylobacter
bao gồm tiêu chảy, tiêu chảy ra máu,
đau bụng, chuột rút, buồn nôn, nôn mửa và sốt. Bệnh nhân bị Campylobacter thường
hồi phục mà không cần một phương pháp điều trị chuyên biệt nào khác ngoài việc
cung cấp thêm nước và các chất điện phân. Một số người có hệ miễn dịch bị tổn
hại, việc nhiễm Campylobacter jeuni có thể dẫn đén những bệnh nặng hơn
như hội chứng Guillan-Barré và hội chứng Reiter. Guillan-Barré là hội chứng rối
loạn gây ra tê liệt cơ tạm thời, 20% các ca nhiễm bệnh sẽ bị khuyết tật dài hạn
và có thể dẫn đến chết. Reiter là hội chứng phản ứng viêm khớp ảnh hưởng đến
nhiều khớp, đặc biệt là khớp gối.
Campylobacter jejuni rất phổ biến. Rất nhiều nơi đã thông báo là vi khuẩn này xuất hiện
trong các thùng chứa sữa tươi như Illinois, Michigan, Minnesota, Ohio,
Pennsylvania, South Dakota, Tennessee, Virginia, và Wisconsin. Trong các nghiên
cứu, tỷ lệ có mặt của Campylobacter jejuni dao động từ 0.4 đến
12.3% trong các mẫu thử thùng đựng sữa (Doyle and Roman, 1982;Jayarao et al., 2001 and 2006; Lovett et al., 1983; McManus and Lanier, 1987; and Rohrbach
et al., 1992).
Coxiella burnetii được tìm thấy ở động vật trên toàn thế
giới và được thải ra trong sữa, nước tiểu và phân của gia xúc, dê và cừu. Coxiella
burnetii được coi là mầm bệnh chịu nhiệt nhất và không có bào tử, thường
được tìm thấy trong sữa, và các điều kiện được thiết lập đặc biệt cho việc thanh trùng là để tiêu diệt khuẩn
này.
Coxiella burnetii gây ra sốt Q, một bệnh có đặc trưng bởi
việc đột ngột sốt cao, đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, tức
ngực, ớn lạnh, ra mồ hôi, đau họng, ho khan, và khó chịu nói chung. Cơn sốt kéo
dài từ 1 đến 2 tuần. Tất cả các bệnh nhân sẽ hồi phục mà không cần điều trị
bằng thuốc kháng sinh, mặc dù Coxiella burnetii có thể dẫn
đến tử vong
Coxiella burnetii xuất hiện khoảng 94% trong các mẫu sữa
tươi ở vùng Đông Bắc, Trung Tây và miền Tây Mỹ khi được kiểm tra từ năm 2001
đến năm 2003 (Kim et al., 2005).
Escherichia coli O157:H7 là một loaij trong nhóm khuẩn Escherichia coli (E.coli).
Chủng E.coli được coi là trực khuẩn ở ruột có nguồn gốc từ phân. Tất cả các
chủng E.coli không gây bệnh và sống trong môi trường đường ruột của người và
động vật khỏe mạnh. E. coli O157:H7 được tìm thấy trong đường ruột
và phân gia xúc. E. coli O157:H7 bị tiêu diệt bởi thanh trùng
E. coli O157:H7
sản xuất chất độc gây bệnh ở người. Triệu chứng của bệnh bao gồm tiêu chảy ra
máu và đau bụng. Trong một số trường hợp, đặc biệt với trẻ nhỏ, nhiễm E.
coli O157:H7 gây ra hội chứng tan Ure huyết, là hội chứng phá hủy tế
bào hồng cầu và gây ra tổn thương thận hoặc hỏng thận, và một số trường hợp dẫn
đến tử vong
Sự
phổ biến của E. coli O157:H7 và chất độc Shiga do E.coli sản xuất đã
được báo cáo từ các mẫu thử sữa tươi ở Minnesota, Pennsylvania, Nam Dakota,
Wisconsin và Ontario. E. coli O157:H7 được tìm thấy ở tỷ lệ từ 0.87
đến 10% trong các mẫu thử sữa tươi lưu trong các xe chở sữa (Jayarao et al., 2001 and 2006; Padhye and Doyle, 1991; và Steele et al., 1997).
Listeria monocytogenes được tìm thấy trong nước và đất đã được
cô lập từ một số lượng lớn các nguồn từ môi trường. Listeria
monocytogenes bị tiêu diệt bởi thanh trùng, nhưng nếu thực phẩm lại bị
ô nhiễm sau khi thanh trùng, Listeria monocytogenes có thể phát triển
trong môi trường tủ lạnh. Bệnh có thể xảy ra đơn lẻ hoặc bùng phát thành dịch
Listeria monocytogenes thường gây ra bệnh ở phụ nữ mang thai, trẻ
sơ sinh và người già, và những người mà hệ miễn dịch bị tổn hại, nhưng những
người lớn khỏe mạnh và trẻ em cũng có thể bị nhiễm. Triệu chứng của Listeriosis
bao gồm các triệu chứng giống cúm, sốt, đau nhức cơ bắp, cứng cổ, đau đầu,
nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, sẩy thai, thai chết lưu, thai chết, sinh non,
sẩy thai tự nhiên, hoặc thậm chí là tử vong.
Sự
phổ biến của Listeria monocytogenes được báo cáo trong các mẫu thử sữa tươi ở các bnag khác nhau (hoặc được
nhóm theo vùng) ở California, Colorado, Florida, Idaho, Illinois, Indiana, Iowa,
Kentucky, Massachusetts, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, New Mexico,
New York, Ohio, Pennsylvania, South Dakota, Tennessee, Texas, Washington,
Wisconsin, Vermont, Virginia, và ở Alberta và Ontario, Canada. Listeria
monocytogenes được tìm thấy
với tỷ lệ lên tới 12% trong các mẫu thử từ các thùng đựng sữa (Farber et al., 1987; Fedio and Jackson, 1990; Jayarao et al., 2001 and 2006;McManus and Lanier,
1987; Liewen and Plautz, 1988; Lovett et al., 1987;Rohrbach et al., 1992; Slade et al., 1988; Steele et al., 1997; and Van Kessel et al., 2004), minh họa một sự hiện diện trên diện rộng của Listeria monocytogene
trong sữa tươi tiệt trùng.
Mycobacterium bovis và Mycobacterium tuberculosis được tìm thấy trong
các gia xúc nhiễm bệnh trên toàn thế giới. Nhưng cả 2 khuẩn này đều bị tiêu
diệt bởi thanh trùng
Mycobacterium bovis và Mycobacterium tuberculosis gây lao, là một dạng
bệnh của phổi. Bệnh Lao ở Mỹ không còn nhiều nữa, mặc dù trong quá khứ, sữa là một
nguồn phổ biến gây bệnh lao. Trong khi đó Lao là mối quan tâm lớn ở nhiều nơi
trên thế giới bao gồm Việt Nam.
Mycobacterium paratuberculosis gây ra bệnh Johne ở
gia xúc. Có ý kiến cho rằng vi khuẩn này có thể gây bệnh Crohn, một rối loạn
đường ruột của con người, nhưng điều này chưa được xác nhận
Loài (spp.) Salmonella gồm một số chủng gây bệnh ở người, phổ biến nhất là khuẩn trong
huyết thanh Enteriditis và Typhimurium. Salmonellaha được tìm thấy trong đường
ruột của các loài máu nóng bao gồm cả con người. Chúng bị tiêu diệt bởi thanh
trùng
Loài Salmonella gây bệnh sau 12 đến 72 giờ từ thời điểm
tiếp xúc, và có thể kéo dài từ 4 đến 7 ngày. Triệu chứng của bệnh Salmonellosis
bao gồm tiêu chảy, đau bụng và sốt. Tất cả mọi người đều có thể hồi phục mà
không cần điều trị kháng sinh, chỉ cần uống nhiều nước và các chất điện phân.
Một số trường hợp bệnh có thể trở nên trầm trọng và cần phải nhập viện. Một số
ít người có thể bị phát triển thành hội chứng Reiter, là một phản ứng viêm khớp
ảnh hưởng nhiều đến các khớp, đặc biệt là khớp gối.
Sự
phổ biến của loài Salmonella được báo cáo từ các mẫu thử sữa tươi ở các thùng
chứa ở nhiều bang (hoặc được nhóm theo vùng) California, Colorado, Florida,
Idaho, Illinois, Indiana, Iowa, Kentucky, Michigan, Minnesota, Missouri, New
Mexico, New York, Ohio, Pennsylvania, South Dakota, Tennessee, Texas,
Washington, Wisconsin, Vermont, Virginia, và Ontario, Canada. Loài Salmonella
được tìm thấy với tỷ lệ từ 0.17 đến 8.9% trong các mẫu thử sữa tươi (Jayarao et al., 2001 and 2006; McManus and Lanier,
1987; Rohrbach et al., 1992; andVan Kessel et al., 2004), điều này nói lên sự hiện diện rộng của loài vi khuẩn này trong
sữa chưa thanh trùng.
Yersinia enterocolitica được tìm thấy trong ruột của các loại
động vật nuôi ở các trang trại, đặc biệt là từ lợn, và được tìm thấy trong môi
trường. Yersinia enterocolitica bị tiêu diệt bởi thanh trùng, nhưng nếu
thực phẩm bị nhiễm khuẩn sau thanh trùng, thì Yersinia enterocolitica có
thể phát triển cả trong nhiệt độ của tủ lạnh
Yersinia enterocolitica có thể gây bệnh với triệu chứng sốt,
đau bụng và tiêu chảy.
Sự phổ biến của Yersinia enterocolitica được báo cáo trong các mẫu thử sữa tươi
ở Michigan, Minnesota, Pennsylvania, South Dakota,
Tennessee, Wisconsin, Virginia, và Ontario, Canada. Yersinia
enterocolitica xuất hiện với
tỷ lệ từ 1.2 đến 18% trong các mẫu thử sữa tươi (Jayarao et al., 2001 and2006; Moustafa et al., 1983; Rohrbach et al., 1992; and Schiemann,
1978). McManus và Lanier ( năm 1987) đã báo cáo về
việc Yersinia enterocolitica trong 48.1% của mẫu thử, nhưng tất cả đều là mẫu
thử môi trường, và không truyền bệnh cho người.
Các vi khuẩn quan trọng khác
Coliform
là một nhóm rộng các vi khuẩn được tìm thấy trong ruột của các loài máu nóng.
Tất cả các Coliform không phải là mầm bệnh, nhưng sự hiện diện của chúng thể
hiện việc bị ô nhiễm, thường từ các nguồn phân. Coliform bị tiêu diệt bởi thanh
trùng.
Sự
phổ biến của coliform ước tính xuất hiện với tỷ lệ từ 62% đến 95% trong các mẫu
thử sữa ở các vùng bao gồm California, Colorado, Florida, Idaho, Illinois,
Indiana, Iowa, Kentucky, Michigan, Minnesota, Missouri, New Mexico, New York, Ohio,
Pennsylvania, South Dakota, Tennessee, Texas, Washington, Wisconsin, Vermont, và
Virginia (Jayarao and Wang, 1999; and Van Kessel et al., 2004), điều này thể hiện sự phổ biến của coliform
trong sữa chưa thanh trùng.
Vi
khuẩn Psychrotrophic không phải là một loài cụ thể trong ngành vi khuẩn, mà nó
gọi tên những loại vi khuẩn có thể phát triển ở nhiệt độ thấp hơn 7 °C. Nhóm vi
khuẩn này là mối quan tâm trong các sản phẩm sữa vì chúng phát triển ở nhiệt độ
trong tủ lạnh, và có thể gây ra hỏng sữa, dẫn đến sữa bị mất mùi vị. Loại vi khuẩn
Psuchotrophic phổ biến nhất là trong chi Pseudomonas. Những vi khuẩn này bị
tiêu diệt bởi thanh trùng, nhưng có thể xuất hiện ở sữa nếu sữa bị nhiễm bẩn
sau thanh trùng. Một số mầm bệnh là spychrotrophic, bao gồm Listeria monocytogenes, Yersinia enterocolitica, một số chủng E. coli và một số chủng Bacillus







.jpg)






0 nhận xét:
Đăng nhận xét